15/3/2012 14:05:22

Một Số Thông Tin Cần Biết Về Bệnh Nhiễm Não Mô Cầu

Viêm não mô cầu (Viêm màng não do não mô cầu, nhiễm trùng huyết do não mô cầu) là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn não mô cầu đang khiến nhiều người quan tâm vì dễ lây, dễ phát sinh thành dịch.

- Vi khuẩn não mô cầu, còn gọi là màng não cầu  tên khoa học là Neisseria meningitidis, thuộc nhóm cầu khuẩn Gram âm, vi khuẩn cư trú ở vùng hầu họng. 
- Con người là ổ chứa duy nhất. 
- Vi khuẩn gây bệnh trên toàn thế giới phần lớn do type A, B, C, W135 và Y
1
. Bệnh nhiễm não mô cầu là gì? 
- Bệnh nhiễm não mô cầu bao gồm:
+
 Viêm màng não do não mô cầu 
+
 Nhiễm trùng huyết do não mô cầu.
- Viêm màng não do não mô cầu là một dạng viêm màng não nặng, gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis.
- Nhiễm trùng huyết do não mô cầu xảy ra khi Neisseria meningitidis xâm nhập vào máu.
- Bệnh nhân có thể bị viêm màng não do não mô cầu hoặc nhiễm trùng huyết do não mô cầu riêng lẻ, hoặc cả hai cùng một lúc.

Image

2. Triệu chứng của bệnh ra sao?
- Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh não mô cầu rất thay đổi, tuy nhiên thường bao gồm:
+
 Sốt cao đột ngột
+
 Nhức đầu

+
 Ói mửa
+
 Cứng cổ
+
 Phát ban

Image
Cổ gượng cứng ở trẻ nhỏ bệnh não mô cầu, dấu hiệu Josef Brudzinski

Image
Dấu hiệu Vladimir Mikhailovich Kernig: Khi gập hông bệnh nhân, sau đó duỗi khớp gối sẽ gây ra đau ở một góc nhỏ hơn 135°, với hố nhượng chân là góc trong


- Còn có thể gặp tình trạng nhạy cảm với ánh sáng, ngủ gà và lú lẫn.
- Triệu chứng thường khó phát hiện ở trẻ em, có thể biểu hiện bằng chứng ngủ nhiều, dễ kích thích, nôn ói, bỏ ăn.

- Khi bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân ở mọi lứa tuổi đều có thể bị co giật. Bệnh não mô cầu có tỷ lệ tử vong khoảng 8 đến 15%.

Image
Tử ban xuất huyết ở bệnh nhi nhiễm não mô cầu

3. Triệu chứng thường xảy ra vào lúc nào?
- Triệu chứng xuất hiện trong vòng từ 2 đến 10 ngày sau khi phơi nhiễm với mầm bệnh, nhưng thường là sau 3 đến 4 ngày.
- Triệu chứng diễn ra nhanh chóng, đôi khi chỉ trong vài giờ, nhưng thường là trong khoảng thời gian từ 1-2 ngày.
- Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể tử vong nhanh chóng chỉ trong vòng mấy giờ sau khi xuất hiện triệu chứng. 
- Cần nghĩ đến hội chứng suy thượng thận cấp Waterhouse-Friderichsen khi xuất hiện tử ban xuất huyết, rối loạn đông máu, suy tuần hoàn, xuất huyết ở 2 tuyến thượng thận, ngay cả khi đã được tích cực cấp cứu bằng các thuốc vận mạch inotropes. 
4
. Ai thường mắc bệnh nhiễm não mô cầu?
- Vi khuẩn N. meningitidis thường được tìm thấy ở vùng mũi hầu của người nhưng lại không gây bệnh.
- Ước tính khoảng 5-10% dân số có mang vi khuẩn vào một thời điểm bất kỳ nào đó.
- Đa số có phơi nhiễm với N. meningitidis nhưng lại không phát bệnh.
- Chưa hiểu rõ lý do tại sao một số người lại bị bệnh nặng, tuy nhiên các yếu tố như di truyền, miễn dịch đã được đề cập đến (nhiễm siêu vi đi kèm trước đó, suy giảm miễn dịch).

- Điều kiện xã hội (sống chen chúc, phơi nhiễm khói bụi) hoặc các tác nhân vật lý khiến họ càng nhạy cảm với bệnh hơn.
- Ai cũng có thể mắc bệnh nhiễm não mô cầu, tuy bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. 
- So với những người khác ở cùng lứa tuổi, các tân sinh viên mới vào trường, đặc biệt là những người sống ở ký túc xá, có tỷ lệ mắc nhiễm não mô cầu hơi cao hơn.

5. Vi khuẩn gây bệnh nhiễm não mô cầu lây lan bằng cách nào?
Vi khuẩn não mô cầu N. meningitidis lây lan do tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết ở đường hô hấp và miệng của người nhiễm bệnh (nước bọt, đàm hoặc dịch nhầy ở mũi).
6
. Bao giờ và trong bao lâu thì người nhiễm bệnh có thể lây truyền?
- Bệnh nhân có thể bắt đầu lây truyền từ vài ngày trước khi triệu chứng xuất hiện cho đến khi vi khuẩn không còn tìm thấy trong chất tiết ở mũi, họng của họ.
- Cần cách ly người bệnh trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ kể từ lúc bắt đầu điều trị và bệnh đã thoái triển.
7
. Chẩn đoán bệnh nhiễm não mô cầu?
• Cấy máu và thử nghiệm PCR (polymerase chain reaction)
• Hút dịch từ các vị trí vô trùng để quan sát dưới kính hiển vi, cấy và xét nghiệm PCR. 
• Hút từ các vị trí tổn thương ở da để quan sát dưới kính hiển vi, cấy và xét nghiệm PCR 
• Chọc dịch não tủy để quan sát dưới kính hiển vi, cấy và xét nghiệm PCR

8. Việc điều trị bệnh não mô cầu ra sao?
- Bệnh não mô cầu có thể được điều trị hiệu quả bằng nhiều loại kháng sinh.
- Những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân cần được cho dùng các loại kháng sinh như rifampin, ciprofloxacin hoặc ceftriaxone như một biện pháp phòng ngừa để tiệt trừ vi khuẩn gây bệnh có thể hiện diện trong họng của họ.
- Bệnh não mô cầu có tỷ lệ tử vong cao do đó nên được xem là một cấp cứu y khoa. Cần nhập viện điều trị tuy rằng biện pháp cách ly triệt để không phải lúc nào cũng cần thiết. 
- Cần điều trị kháng sinh thích hợp càng sớm càng tốt, tốt nhất là sau khi đã chọc dò dịch não tủy và đánh giá về đại thể.
- Nếu điều trị trước khi chọc dò tủy sống thì cấy dịch não tủy sẽ khó mọc, gây ảnh hưởng đến công tác chẩn đoán về sau.
- Nhiều kháng sinh có khả năng trị được bệnh, bao gồm penicillin, ampicillin, chloramphenicol và ceftriaxone.
- Chloramphenicol hoặc ceftriaxone là những thuốc được chọn dùng ở các nước đang phát triển do chỉ cần một liều duy nhất cũng đã có hiệu quả đối với viêm màng não do não mô cầu. 
9
. Những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân bệnh nhiễm não mô cầu có cần được điều trị?
- Chỉ những người tiếp xúc gần và trực tiếp với bệnh nhân mới cần được xem xét điều trị dự phòng.
- Tiếp xúc gần bao gồm những người ở chung nhà, những người có tiếp xúc thân mật, những người đã thực hiện cấp cứu hà hơi thổi ngạt, đặt nội khí quản cho bệnh nhân, các học sinh bán trú, hoặc tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ miệng hoặc mũi của người bệnh (hôn môi, dùng chung chén, đũa, muỗng, ly tách).
- Những người đã tiếp xúc trực tiếp được khuyên dùng kháng sinh dự phòng.
- Những người tiếp xúc gần và trực tiếp cần được cảnh báo phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh, đặc biệt là sốt, và nên nhanh chóng đi khám, điều trị.
- Thường không khuyên dùng kháng sinh dự phòng đối với các trường hợp tiếp xúc ngẫu nhiên xảy ra trong lớp học, văn phòng hoặc nơi làm việc.
10. Có thuốc chủng ngừa cho bệnh nhiễm não mô cầu không?
- Có 2 loại vaccin (Menomune®, Menactra™) có thể bảo vệ chống 4 typ não mô cầu, bao gồm 2 trong 3 typ thường gặp nhất (serogroup C, Y, và W-135) và 1 typ thường gây dịch ở Châu Phi (serogroup A). 
- Vaccin não mô cầu không thể bảo vệ chống tất cả các typ gây bệnh (và cũng không thể bảo vệ chống lại typ B). 
- Vaccin được khuyến cáo sử dụng trong một số tình huống bùng phát dịch bệnh hoặc cho những khách du lịch đến những vùng dịch lưu hành.
- Các tân sinh viên sống ở ký túc xá cũng nên được chủng ngừa do thống kê cho thấy họ có nguy cơ mắc bệnh hơi cao hơn dân số bình thường.
- Vào năm 2005, Ủy Ban Tư Vấn về Chủng Ngừa (Advisory Committee on Immunization Practices=ACIP) khuyến cáo trẻ em nên được chủng ngừa bệnh não mô cầu bằng vaccin mới (Menactra™) khi đến khám sức khỏe định kỳ ở tuổi 11-12 và tiêm nhắc lại từ 2 đến 3 năm sau đó.
- Các thanh thiếu niên học sinh trung học cũng được khuyến cáo nên chủng ngừa.

Tài liệu tham khảo:
1- "Meningococcal meningitis". who.int. World Health Organization. 2011. Retrieved 18 June 2011.
2- Genco, C; Wetzler, L (editors) (2010). Neisseria: Molecular Mechanisms of Pathogenesis. Caister Academic Press. ISBN 978-1-904455-51-6. 
3- Neisseria meningitidis at Centers for Disease Control and Prevention. Page last reviewed: October 24, 2008 
4- Mola SJ, Nield LS, and Weisse ME (February 27, 2008). "Treatment and Prevention of N. meningitidis Infection". Infections in Medicine.

Sưu tầm